Tin Hoc Xanh Cảm nhận sau một chuyến đi (phần I)

Cuộc vui nào chẳng đến lúc chia tay Rơi nước mắt và bàn tay nắm chặt Đem nỗi nhớ giấu vào trong quá khứ Thả hồn mình theo kỷ niệm nên thơ…

2 ngày, 3 đêm và những kỷ niệm.

Hai ngày, tạm gác mọi công việc, tôi hành trình cùng tin học xanh lên một vùng cao nguyên còn hoang sơ nghèo khó. Nơi đó, có những con người thực sự gây cho tôi nhiều bất ngờ và cũng rất nhiều lưu luyến. Những con người quê mùa, chất phát, nhiệt tình và thân thiện, đó là Ayunpa, đó là Krongpa, đó là Bon Ama Djơng, là Bon Toat, Bon Nu A.. những vùng đất, những con người, những người dân tộc Gia-Rai anh em.. của tỉnh Gia Lai.

Hai ngày, không nhiều nhưng cũng đủ để tôi thấy được phần nào sự khó khăn, khổ cực của những người dân sống nơi đây. Những thiếu thốn, thiếu về vật chất lẫn tri thức đã khiến cho người địa phương nơi đây bao năm qua vẫn nghèo khó. Gặp gỡ các Sr dòng thánh Phaolo, những người làm công việc đem ánh sáng văn minh về các buôn làng xa xôi một cách thầm lặng, tôi mới thấy hết được ý nghĩa của cuộc sống.

Trở về thành phố sau hai ngày rong ruổi đến các buôn làng xa, tôi lại tiếp tục vùi đầu vào công việc và những xô bồ của thường ngày. Các bạn, những người bạn dân tộc Gia-Rai ở nơi xa, biết đến bao giờ mới có dịp gặp lại, lên xe tôi chỉ biết quay đầu thốt lên: “Tạm biệt Bon Toat, tạm biệt Ayunpa. Bơ ni kơ gi, Tộ hem.”

Hãy để cho quá khứ mãi là những kỷ niệm, tôi sẽ nhớ mãi những kỷ niệm đó và chắc chắn rằng có một ngày, trong tương lai không xa, tôi sẽ trở lại thăm các bạn, để thấy được sự thay đổi, sự phát triển của các bạn trên vùng đất này.

Tôi sẽ viết lại những gì mình mắt thấy tai nghe, những gì mình có thể hiểu và có thể cảm nhận được. Chắc hẳn là trong bài viết này cũng còn rất nhiều chi tiết có thể không đúng, có thể sai và còn nhiều thiếu sót vì tôi viết lại theo trí nhớ của mình sau nhiều ngày mà.

Đêm thứ nhất

Hành trình khởi đầu từ bến xe miền đông lúc 19 giờ 30, chiếc xe 45 chỗ ngồi Hải Hà tuyến Ayunpa-SàiGòn của nhà xe Bảy Ngữ chạy thật êm, lên xe bạn được một chai nước suối và một cái khăn lạnh, khoảng 9-10 giờ bạn sẽ có một bữa ăn khuya miễn phí, ngoài ra, chỗ bạn ngồi còn có một cái gối và một cái mền nhỏ để bạn chống chọi với cái lạnh ban đêm trên cao nguyên, nói chung là trong suốt đoạn đường gần 11 tiếng ngồi trên xe như vậy là rất thoải mái. Ra khỏi thành phố, xe chạy theo quốc lộ 13 lên Đại Lộ Bình Dương và tiếp tục qua các tỉnh Bình Phước, Đaklak để tới Gia Lai…

Chuyến hành trình trong đêm tuy không mệt mỏi và còn có thời gian ngủ nhưng cũng đáng tiếc nho nhỏ là không ngắm được cảnh bên ngoài, những địa danh mà xe đi qua như: Thị Xã Thủ Dầu Một của Bình Dương, Buôn Hồ, Buôn Mê Thuộc, Chư Sê .. đang chìm trong giấc ngủ.

Trên đường đi, những chuyến xe hàng cần mẫn vượt bóng tối để kịp giao hàng vào lúc bình minh, kịp một buổi chợ, kịp một ngày mới, có đi mới thấy được cái khó nhọc của cánh tài xế chạy xe ban đêm, trong lúc mọi người ngủ ngon thì họ âm thầm làm công việc lặng lẽ và không thiếu phần quan trọng của họ, để rồi sáng hôm sau, những buổi chợ có tấp nập người mua người bán. Khoảng 3 giờ sáng, xe chạy qua một cánh rừng, trời rất lạnh, một chốc bên lề đường lại có vài người đứng chờ xe với một đống lửa nhỏ kề bên, một ánh lửa nhỏ leo lét trong đêm giá lạnh nhưng cũng làm ta cảm thấy ấm áp hơn.

Ngày đầu tiên

5 giờ 30 xe đến Ayunpa và lần lượt thả khách đến tận nơi mà họ cần xuống.

6 giờ sáng, chúng tôi có mặt tại nhà trẻ Bình Minh, nơi các Sr dòng tu Phaolo đang sống và nhận nuôi 59 em nhỏ có hoàn cảnh khó khăn. Đón tiếp chúng tôi, các Sr tỏ ra rất vui mừng và nồng nhiệt vượt mức tưởng tượng khiến chúng tôi đâm ra lúng túng, ngại ngùng quá thể. Nhìn những ánh mắt ngạc nhiên, vui mừng và thích thú của các em nhỏ chúng tôi thấy quên hết một đêm mệt nhọc trên xe và chỉ muốn bắt tay ngay vào việc. Buổi sáng trên thung lũng Ayunpa thật là đẹp, ánh bình minh xuyên qua các tàn cây, trên cành cao, những chú chim nhảy nhót và hót véo von thật vui tai, cái âm thanh mà từ lâu ở thành phố đã không còn nữa.

Theo các Sr, các em nhỏ dân tộc ở đây được sống một cuộc sống có thể gọi là may mắn hơn các bạn bè mình ở tại các buôn trong rừng trong núi rất nhiều, trong kia, các em nhỏ còn khổ cực lắm. Những tiếng gọi “Chúng em chào anh”, “Chúng con chào chú”.. khiến chúng tôi thấy công việc mình làm không đáng gì. Chúng tôi được các Sr sắp xếp chỗ ăn, ngủ thật trang trọng, hỡi các Sr và các em, hãy đừng ưu ái chúng tôi như vậy, hãy xem chúng tôi chỉ là những người khách bình thường viếng thăm. Nhân tiện, chúng tôi được các Sr hướng dẫn đi một vòng tham quan tìm hiểu đời sống thường nhật của các em nhỏ nơi đây. Sáng sớm, 4 giờ 30 là các em dậy, đi lễ nhà thờ và đọc kinh cầu nguyện, đến 6 giờ, một số em dọn dẹp, một số em quét sân, một số em phụ bếp.. các em chia nhau việc mà làm. 6 giờ 15, các em tụ tập lại ăn cơm sáng sau đó em nào đi học buổi sáng thì đi học còn các em học buổi chiều thì học bài.. Các em còn tự tổ chức tập múa, tập hát theo những bài hát được xem trong băng, đĩa. Một số em thì ra vườn cuốc đất, nhổ cỏ, trồng rau.. Các em ở khắp nơi tụ họp về, tất cả là người dân tộc Gia-Rai, có những em thì ở những buôn gần đó, nhưng cũng có những em nhà ở những buôn rất xa đến 80-100 cây số, có những em có điều kiện thì mỗi tuần về thăm nhà một lần. Như là bé H’Nhim, nhà em ở trong buôn gần đó, cũng rất vất vả, em là con lớn, còn đến 3 đứa em nhỏ, ở nhà chỉ còn bà ngoại và mẹ. Bé H’Char thì nhà ở xa hơn, các đó gần 40 cây số, khi nào em nhớ nhà thì nhờ các Sr nhắn Ama của em ra đón..

8 giờ sáng, sau khi nghỉ ngơi, tắm rửa và tranh thủ đi một vòng tham quan tìm hiểu đời sống sinh hoạt thường nhật của các em, chúng tôi bắt tay vào việc, những chiếc máy vi tính của chương trình tin học xanh sau một đêm vượt 600 cây số từ thành phố lên cao nguyên bỗng trở nên đỏng đảnh như những cô gái mới lớn, chúng hứng chí chạy nhảy lung tung, driver cùng với mấy phần mềm office náo loạn. Sau hơn một giờ dẹp loạn, tình hình đã ổn định trở lại. Đáng tiếc là trong năm cái đưa đi chúng tôi đành phải đưa về một “em” vì thiếu điều kiện để sửa chữa, dù đã sử dụng luôn phương án dự phòng.

9 giờ 30 chúng tôi ra vườn, nhìn từng em nhỏ vừa làm cỏ, dọn rác vừa ngân nga ca hát và đùa giỡn làm chúng tôi nhớ về cái thời thơ ấu của mình, cũng cách đây không lâu lắm, khi chúng tôi bằng tuổi các em bây giờ có lẽ cũng chỉ trên dưới 20 năm. Và cũng như các em bây giờ, ngoài giờ học, tôi cũng ra đồng không làm phụ ba má thì cũng chơi thôi, cuộc sống sao mà vô tư, hồn nhiên dễ sợ. Nhỉn những luống rau các em trồng, những bãi cỏ xanh tươi, những bụi bông hoa nở rực rỡ.. chúng tôi thấy tâm hồn mình thư thái đi nhiều, để tạm quên đi những nỗi lo, áp lực của cuộc sống thường nhật mà hòa mình với thiên nhiên.

11 giờ trưa, các em nhỏ tập trung về phòng sinh hoạt chung và chúng tôi được thưởng thức những bài hát, điệu nhảy do các em tự tập. Theo các Sr thì những em nhỏ này rất có khiếu văn nghệ, thỉnh thoảng được xem những cuộn băng hay đĩa nhạc và các em tự nghĩ ra những điệu múa, tuy đơn giản thôi nhưng cũng là những tài năng đó chứ? rồi các em lại tự chia nhóm ra mà tập dượt với nhau, các em nhỏ múa theo nhỏ, lớn theo lớn, rất trật tự và đẹp mắt. Sau đó, là tiết mục cồng chiêng, mỗi một cái cồng, một cái chiêng có một âm thanh trầm bổng khác nhau, chúng cùng ngân lên, hòa trộn vào nhau tạo nên một bản giao hưởng đậm bản sắc văn hóa Tây Nguyên, người gõ cồng chiêng cũng không cần phải học gì nhiều, cần có một khiếu cảm nhận âm thanh, một chút khéo léo là bạn đã có thể dễ dàng gõ những bản nhạc này rồi. Khi tôi gõ, nghe có hơi lạc “tông” một chút so với các em nhưng ngẫm lại tôi thấy mình gõ cũng hay quá chứ. Có dịp tôi sẽ biểu diễn cho các bạn thưởng thức.

Tiết mục văn nghệ rất đặc trưng của các em nhỏ dân tộc Jrai.

Sau tiết mục văn nghệ đó, các em ăn cơm trưa và một số lại đi học. Chúng tôi cùng các Sr ăn trưa và nói chuyện, bàn kế hoạch, sau đó về phòng nghỉ ngơi và làm một giấc không biết trời trăng chi nữa, nếu không có Sr đánh thức chúng tôi dậy lúc 2 giờ thì có lẽ cả 3 đã ngủ đến chiều luôn quá.

2 giờ, chúng tôi theo chân Sr Gương và Sr Hélène đến Bon Ama Djơng gần đó để tìm hiểu thực tế cuộc sống người dân. Buổi chiều, nắng không gay gắt, đường vào buôn cũng vắng lặng, chung quanh đường đi là những ao rau muống, rau lang, những căn nhà sàn nhỏ xíu và tạm bợ, những con người khổ cực và đen đúa.. họ nhìn chúng tôi bằng những đôi mắt ngô nghê, trẻ con đứa nào cũng xác xơ, bé loắt choắt, chân cẳng đen thui, áo quần rách nát. Nếu ở thành phố, bạn lo con mình bị bệnh béo phì đến phát sốt và tìm mọi cách để giảm cân cho nó thì dân tình tại đây ngược lại, lo lắng nó ốm đến phát sốt và mong muốn nó tăng được vài ba cân, bạn có tin rằng một đứa trẻ 10 tuổi mà nhỏ xíu như là 3 tuổi, nặng không tới 10 ký không? khó tin quá phải không? Dân ở đây lập gia đình rất sớm, có những cô gái còn rất trẻ mà đã có 3-4 đứa con, những người ông, người bà tuổi mới ngoài 30 là chuyện thường. Chính vì thế, họ không có đủ kiến thức và điều kiện chăm nom chăm sóc con cái và chăm sóc nhau.

Người Gia-Rai theo chế độ mẫu hệ nên trong nhà có con trai coi như là không có, khi người con trai đến tuổi lập gia đình thì sẽ “bị” một cô gái nào đó tới cưới về và anh ta “bị” bắt về nhà vợ (nghe khúc này, các bạn nam nhà ta cũng muốn “bị” như thế lắm đó). Chúng tôi ghé thăm được vài nhà, mỗi nhà có một hoàn cảnh khác nhau.

Đầu tiên, chúng tôi ghé thăm ông Ama Ke già yếu, đau ốm mà không có gia đình, không còn người thân, sống một mình trong một cái chòi bằng mấy tấm tôn ghép lại, rất mong manh, những người chung quanh ai có gì thì giúp nấy cho ông ấy. Một gia đình khác thì khá hơn, chung quanh nhà có vài ô ruộng trồng rau muống, theo lời bà ấy thì mỗi ngày bà trồng rau và cắt đem bán một gùi cũng được cỡ 20.000đ, đó cũng gọi là có thu nhập và cũng là có cuộc sống, bà ấy còn làm một gánh bún để bán nhưng không thành công. Tiếp đến là thăm bà Yă H’Lươn (Bà của em H’Nhim – bé Nhiêm đang học và ở nội trú tại nhà dòng), gia đình bé H’Nhim sống trong một căn nhà nhỏ xíu, người bà của em vừa bị té khi đi ra suối cắt rau, người mẹ ốm o thì nheo nhóc mấy đứa con. Một gia đình gần đó thì khá hơn vì nuôi được vài con heo “mọi”, thức ăn cho chúng cũng chỉ là vài cọng rau muống rau lang mọc trong ruộng nhà cùng với một số cây rau dại khác, như vậy cũng là khá. Có một số căn nhà to hơn hẳn những căn nhà khác, ở đây, gia đình nào nhà càng to thì càng khá hơn.

Chúng tôi đến một căn nhà sàn bằng gỗ rất đẹp, nhà có xe máy dựng trong nhà, chắc hẳn cũng là một gia đình tân tiến, trí thức. Đón chúng tôi là một cô gái cũng khá dễ thương, cô ấy chào mọi người xong cho biết là ba của cô ấy đang dạy tiếng Anh trên nhà, dạy tiếng Anh – tôi nghe đã bất ngờ rồi, cô ấy còn cho biết thêm là dạy giáo trình Headway. Tôi không nghĩ là có một người dạy tiếng Anh ở đây. Khi chúng tôi bước lên căn nhà sàn, chúng tôi gặp một người đàn ông khá hoạt bát, đó là Thầy Ama H’Eng. Thấy có khách, thầy mới cho học trò nghỉ sớm và tiếp chuyện chúng tôi. Thầy kể, căn nhà này là do thầy tự làm nên, lúc đó thầy bị té gãy chân, không làm được gì cả, thầy mới học nghề mộc, căn nhà và bàn ghế, vật dụng trong nhà đều do tự tay thầy làm nên, trong mấy năm trời “như thế, mình mới thấy cuộc đời mình còn nhiều ý nghĩa, không có cảm giác là một người bỏ đi” – thầy tâm sự. Thầy là một người học nhiều, hiểu biết nhiều, ngoài tiếng Gia-Rai mẹ đẻ, thầy còn sõi tiếng Việt, thành thạo tiếng Anh, tiếng Pháp. Nghe thầy kể chuyện, chúng tôi biết hơn rất nhiều.. những vấn đề về ngôn ngữ, văn hóa, chuyện thường ngày, chuyện xã hội đều được chúng tôi tám hết. Thầy còn cho biết, Thầy cùng vài người bạn và vài vị Linh mục đang hoàn thành bộ từ điển Gia-Rai đồ sộ nhất, đầy đủ nhất. Khi có cuốn từ điển này, bạn có thể tra cứu bất kỳ thông tin nào cần chuyển từ tiếng Gia-Rai sang tiếng Việt của người Kinh, hoặc có thể học tiếng Gia-Rai thông qua nó.

4 giờ chiều, chúng tôi tạm biệt Bon Ama Djơng, để tiếp tục chuyến hành trình đến Bon Toat – thuộc huyện Krongpa – tỉnh GiaLai. Đoạn đường gần 40 cây số không dễ đi chút nào, chúng tôi ra khỏi thị trấn Ayunpa trên 2 chiếc xe máy và hướng thẳng đến Krongpa. Ra khỏi Ayunpa, xe chúng tôi chạy dọc theo con sông Pa phẳng lặng, trên đường nhìn xuống, dọc hai bên bờ sông là những căn nhà nhỏ, những khoảng ruộng, khoảng vườn, những người đang đang câu cá, tắm giặt. Bờ sông rất rộng và bãi cát trải dài dọc hai bên, chúng tôi còn thấy rất nhiều người tụ tập lại một chỗ thả diều. Ở một khúc sông khác, có những bạn thanh niên đang đá bóng, chơi bóng chuyền trên bãi cát.. làm chúng tôi náo nức quá chừng.

Cuộc sống buổi chiều nơi đây thật là vui và thanh bình biết nhường nào. Sr.Huệ cho biết sở dĩ vùng đất này có tên gọi là Ayunpa đó là do người dân tộc lấy tên hai con sông lớn trong vùng ghép lại: Sông Yun và Sông Pa. Trên đường đi, chúng tôi gặp những đàn bò đi ăn về, bình thường thì mỗi đàn vài chục hay vài trăm con thôi, nhưng hôm nay, không biết có phải vì đón chúng tôi hay không mà có đến cả ngàn con, trong nhiều đàn khác nhau gộp lại. Chúng kéo nhau trên một đoạn đường dài cả cây số, cảnh tượng này thật là hoành tráng, không bao giờ bắt gặp được ở thành phố. Từ Ayunpa đến Krongpa phải qua một ngọn đèo, tuy là buổi chiều nhưng không khí trên đèo vẫn thoáng lạnh, chúng tôi được chiêm ngưỡng những vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên. Cameraman Thắng đã không thể nào kềm được tiếng xuýt xoa, anh đã trổ hết tài nghệ của mình để quay những cảnh đẹp nhất, hùng vĩ nhất và nên thơ nhất của một buổi chiều đang buông xuống trên đỉnh đèo. Từ trên đèo nhìn xuống, bên này núi là Ayunpa, bên kia núi là Krongpa, con sông Pa uốn lượn quanh ngọn núi, chia đều nguồn nước phù sa của mình cho cả hai vùng, mặt sông khúc này gần như không chảy, chúng thật sự phẳng lặng như là một cái hồ dài, hai bên là núi, soi minh xuống con sông Pa ở giữa, chung quanh cây cối xanh tươi.

Qua khỏi đèo, chúng tôi đã đặt chân lên đất Krongpa. Ở đây, dân đa số là người dân tộc thiểu số, bạn thấy người dân đeo gùi đi lại rất nhiều, chiều đó chúng tôi thấy có nhiều em nhỏ đeo nhửng cái gùi bé xíu rất dễ thương, đoán chừng các em trên nương rẫy về. Dọc đường đi, những căn nhà sàn thô sơ và cũ kĩ luôn hiện ra trước mắt chúng tôi, trên đường chỉ có người đi bộ, rất hiếm có xe gắn máy, xe đạp còn không thấy. Những người đi đường nhìn cameraman Thắng của chúng ta với một con mắt lạ lẫm, Thắng thì hứng lắm, anh quay ngang quay dọc, không bỏ sót một chi tiết nào. Đường đi khá xấu nên hơn một tiếng sau chúng tôi mới đến nơi, từ đường cái, cho xe quẹo phải đi một khoảng vài trăm mét, quẹo trái và theo một con đường nhỏ là bạn đang vào buôn Toat.

5 giờ 30 chiều chúng tôi dừng xe ngay một căn nhà sàn lớn, đó là nhà của Amai H’Nhúi (Thủ lĩnh thanh niên của Bon Toat), tôi ngạc nhiên vô cùng khi thấy trước sân nhà, cạnh một cái giếng xây, có một chiếc xe Honda Wave Alpha. Phía dưới căn nhà, người ta lùa những con bò vào đó sau một ngày chúng làm việc, phía trên căn nhà cũng khá rộng, mấy chú chó nhảy xổ ra và leo thoăn thoắt xuống bậc thang bằng gỗ của căn nhà sàn, các Sr nói rằng chó ở đây leo trèo giỏi lắm đó. Đó là căn nhà mà chúng tôi ghé ăn tối, chúng tôi chào anh chị chủ nhà là Ama H’lơi và Amị H’lơi, các Sr cho biết: tên của người dân nơi đây thay đổi theo thời gian, tên cha mẹ đặt được gọi lúc họ còn nhỏ, khi lớn lên lập gia đình, có con rồi thì tên sẽ được gọi theo tên con (Ama là Ba/Cha, còn Amị là Má/Mẹ. Trong nhà này, đứa bé tên là H’lơi nên tên của vợ chồng chủ nhà gọi theo tên đứa bé)

Tranh thủ lúc mọi người còn chuẩn bị bữa ăn, tôi và Thắng tranh thủ dạo một vòng quanh buôn làng. Ở đây, mỗi nhà nằm trong một lô đất, đường đi ngăn các lô đất đó ra đều nhau, cũng có một số căn nhà xây bằng gạch, đa số còn lại là nhà sàn vì tính tiện dụng của nó. Thường thì căn nhà sàn rất thô sơ, có 2 cửa ra vào và 1-2 cái cửa sổ, hoàn toàn không có phòng ngăn cách trong nhà, cả căn nhà là một cái phòng lớn, sát vách nhà, đối diện cửa ra vào người ta kê một cái tủ thờ, đồng thời cũng là để các vật dụng khác. Bên dưới căn nhà họ để vật dụng làm nông, nuôi heo, nuôi bò.. Khi ta vào nhà, chúng ta sẽ chào là “Kơ Kuc Kơ i” (đại khái là xin chào bạn) và người chủ nhà sẽ chào lại bạn bằng câu “Kơ Kuc Kơ i” hoặc “Bơ ni kơ i” nghĩa là cám ơn bạn (hiểu nôm na là cảm ơn bạn ghé thăm tôi), sau đó họ sẽ đem một tấm chiếu (gọi là Nuai – đọc là Nhoi hoặc gọi là Kyau – đọc là Keo. Nhoi hay Keo đều là cái chiếu) lớn ra trải giữa nhà và mời ta ngồi vào đó. Họ sẽ mời bạn uống nước trong một cái Chok (cái ly) bằng câu “Nhum e”, cái bình (cái ấm) đựng nước gọi là “Binh”, còn mời ta uống rượu cần thì họ nói “Nhum T’pai”.

Trong lúc chúng tôi đang đi dạo thì có hai cô gái khá xinh xắn, hỏi chúng tôi đi đâu đó, dĩ nhiên là tôi và Thắng nghe như vịt nghe sấm, có hiểu chữ nào đâu. Sr Huệ đi cùng chúng tôi đối đáp với hai cô gái ấy, sau đó hai cô gái khuất sau một ngã rẽ, tôi mới hỏi Sr nội dung cuộc nói chuyện, Sr kể: “hai cô gái hỏi chúng ta đi đâu? Sr trả lời là đi dạo, hai cô ấy nói tiếp là tưởng chúng ta đến nhà cô ấy chơi chứ, Sr nói là không, chỉ đi ngoài đường thôi”. Trời, nếu tôi hiểu được và sớm biết chắc tôi tới nhà hai cô ấy thật. Tôi hỏi Sr có quen biết hai cô ấy không? hay là mình tới nhà cô ấy chơi đi, thế là chúng tôi quay lại nhưng không tìm ra bóng dáng người đâu nữa, té ra là Sr cũng không biết hai cô ấy là ai, ở đâu, chỉ là nói chuyện vậy thôi. pó tay. Ở đây, bạn có thể bắt gặp những vòi nước bơm tay mà hồi xưa chúng ta cũng đã từng sử dụng, người ta khoan giếng xong lắp một bộ phận bơm tay mà khi bạn gạc lên gạc xuống chiếc cần thì nó hút nước lên và chảy ra một cái vòi, hiện giờ thì chúng ta không còn xài nữa. Một số nhà cũng có Tivi, đầu đĩa, xe máy.. Trời sập tối rất mau, trong những căn nhà, ánh điện leo loét được thắp lên, điện thì đã về tới tận buôn làng nhưng người dân chỉ xài những bóng đèn nhỏ xíu như là bóng đèn ngủ.

6 giờ đúng, chúng tôi quay về nhà Ama H’Nhúi ăn tối, vừa về tới ngõ thì gặp Amai H’Nhúi và Sơ Gương ra đón. Chị ấy đùa rằng tưởng chúng tôi bị các cô gái bắt rồi chứ, đi lâu quá không thấy về. Tôi và Thắng hết hồn, tưởng hồi nãy chị ấy biết chuyện chúng tôi.. dù sao cũng “sém” bị bắt chứ bộ. Chúng tôi cùng vào nhà, giữa nhà trải một cái chiếu lớn, giữa chiếu có một cái tô lớn đựng cơm, một chén muối ớt gọi là Rahan, một chén cà um, một chén cây cải giã nhuyễn và năm cái chén. Dưới ánh đèn điện tỏa ra từ cái bóng đèn bé tí, cả không gian rộng lớn không đủ ánh sáng, không khác gì khi xưa đốt đèn dầu, chúng tôi cùng dùng bữa, một bữa ăn đơn giản đạm bạc nhưng rất ngon (có điều này bạn nên biết, người Gia-Rai rất thích ăn ớt nên món nào cũng có ớt, không ít thì nhiều, nên các bạn không ăn được ớt chắc chỉ còn cách ăn cơm không thôi – bản thân tôi cũng cay đến ù tai cơ mà)

Người dân tộc họ ăn nhiều ớt, có lẽ do cái đói cái nghèo, vị ớt làm cho người ta dễ ăn và thèm ăn… đi rồi mới biết thấm thía, tôi không hình dung được việc ngày nào tôi cũng phải ăn như thế này thì làm sao mà có sức để mà làm việc… cái vị cay của ớt có lẽ vì thế mà lúc nào cũng hiện diện trong các món ăn của người dân tộc Jrai.

Một bữa ăn vui vẻ giữa chúng tôi không có khoảng cách nào, phải không các Amai, các Young? Một bữa ăn tôi rơi nước mắt là vì món ăn có nhiều ớt, quá cay hay là vì cái gì khác? Sơ Huệ nói là người Gia-Rai không có ăn sáng đâu, nên mọi người hãy ăn cho nhiều vào, đến trưa mai mới ăn cơm lại. Ăn xong, người ta uống nước chứa trong một quả bầu khô, thật kỳ lạ trời thì cũng bình thường, thậm chí có thể nói là nóng nhưng khi cầm quả bầu lên tôi thấy nó lạnh, lạnh như là nó đang chứa nước đá trong đó, Sr nói đó là cái tủ lạnh của người Gia-Rai đó, nước chứa trong trái bầu cũng mát lạnh lạ thường. Thắng uống thử một ngụm, rồi thấy ngon quá anh làm tiếp 2 lần nữa. Tôi cũng tò mò không biết là có ma lực nào quyến rũ Thắng như thế, cũng cầm bầu nước lên ngửa cổ uống, thú thật là nước rất mát và ngon như là nước khoáng trong tủ lạnh. Rồi sau bữa ăn chúng tôi tạm biệt nhà Ama H’Nhúi, đi sâu vào buôn để bắt tay vào công việc của mình trong đêm nay.

Facebook Comments

Tin Học Xanh

Facebook Fanpage: facebook.com/tinhocxanh.org

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *